kết quả từ 1 tới 4 trên 4

Ðề tài: giơi thiêu

Threaded View

Previous Post Previous Post   Next Post Next Post
  1. #1

    Mặc định giơi thiêu

    (Kynguyentamlinh.com)
    - Một cộng
    tác viên vừa
    chuyển cho
    website
    chúng tôi tập
    tài liệu giáng
    bút hơn hai trăm trang khổ
    A4 do bà Phạm Thị Xuyến
    ghi chép tại đền Hòa Bình.
    Tập tài liệu này có nhiều
    bài, được đóng thành
    quyển sách, ghi tựa đề “Lời
    tâm Linh Hồn Trời Hồn
    Nước” - quyển II (có lẽ còn
    có quyển I nữa). Phần này
    là lời giới thiệu khái quát
    tập tài liệu đó...
    GIỚI THIỆU
    Nhóm nghiên cứu tâm
    linh tại Hà Nội đã nhận
    được một tập tư liệu ngoại
    cảm đặc biệt do bà Phạm
    Thị Xuyến ghi liên tục mấy
    tháng chủ yếu tại đền Hoà
    Bình (số nhà 16, ngõ 4,
    đường Thanh Niên, phố
    Thái Học 1, phường Sao
    Đỏ, thị xã Chí Linh - Hải
    Dương). Trong tập thơ
    giáng bút này, nhân danh
    Thuỷ Tổ “Hồn Trời - Hồn
    Nước” đã công bố nhiều
    khía cạnh tâm linh có ý
    nghĩa trọng đại cho đất
    nước và nhân dân Việt
    Nam, cũng như toàn bộ các
    quốc gia và loài người trên
    thế giới. Đây là đại hồng
    phúc của dân tộc ta ngay
    trước thềm Đại lễ Ngàn
    năm Thăng Long - Hà Nội.
    Việc tìm hiểu và
    khẳng định những nội dung
    đích thực của lịch sử loài
    người và dân tộc ta cổ xưa
    do Tâm Linh giáng truyền
    là một vấn đề chưa được
    các nhà nghiên cứu quan
    tâm thoả đáng, dù điều này
    có vai trò rất quan trọng
    trong quá trình xây dựng và
    bảo vệ tổ quốc. Nhiều tư
    liệu ngoại cảm cho thấy
    rằng, đất nước ta đang
    đối mặt với những kẻ thù ở
    cõi Âm cực kỳ nguy hiểm
    vốn là vô số hồn giặc độc
    ác tồn đọng từ bao đời.
    Theo cảnh báo dồn dập từ
    Thiên Âm, do các nhà lãnh
    đạo chủ chốt không nhìn
    nhận thế giới tâm linh có
    quan hệ sống còn đến
    nhiều vấn đề bức bách của
    quốc gia để có sự hợp tác
    kịp thời với Thánh Thần,
    cho nên nhân dân có thể
    phải gánh chịu những thảm
    hoạ khủng khiếp. Nếu đúng
    như vậy thì đó sẽ là hậu
    quả của sự dốt nát, trì trệ,
    bảo thủ, vô cảm và tắc
    trách của người trần trong
    hoàn cảnh đầy biến động
    tâm linh hiện nay. Điều còn
    bi đát hơn là giới khoa học
    vẫn bó tay, bàng quan và
    khinh suất trước hàng loạt
    khía cạnh nền tảng liên
    quan đến các cõi giới vô
    hình.
    1. Có tồn tại thế giới
    tâm linh?
    Đây là một câu hỏi sơ
    đẳng lâu đời và mang tính
    nghịch lý, nhưng nếu không
    được làm rõ thì mọi thứ
    liên quan sẽ trở nên vô căn
    cứ. Chưa có một cơ quan
    khoa học nào công khai đề
    xuất cơ sở lý thuyết về sự
    tồn tại thế giới tâm linh,
    cho dù loài người xưa nay
    đã biết và ghi nhận được
    vô số hiện tượng thuộc thế
    giới âm. Rõ ràng, việc chưa
    thừa nhận lý thuyết phù
    hợp để lý giải các hiện
    tượng tâm linh không có
    nghĩa là các sinh linh cõi
    vô hình không tồn tại. Sự
    bế tắc về vấn đề tâm linh
    có lẽ xuất phát từ ba
    nguyên nhân sâu xa sau
    đây:
    (1) Giới khoa học có
    thái độ trịch thượng trước
    thế giới tâm linh;
    (2) Cách tiếp cận
    nghiên cứu sai lầm và
    không chịu thay đổi;
    (3) Tồn tại một yếu tố
    nguyên thuỷ nền tảng chưa
    được chú ý.
    Hoá ra, những luận
    điểm cơ sở về thế giới tâm
    linh từ lâu đã được các
    minh sư trên thế giới cho
    biết khá đầy đủ trong
    nhiều bài thuyết giảng trực
    tiếp hoặc gián tiếp. Nói
    ngắn gọn, sự hiện diện thế
    giới tâm linh có thể được
    lý giải bởi các điểm dưới
    đây:
    - Toàn bộ vật chất của
    vũ trụ tồn tại theo từng lớp
    tách biệt và hoà nhập lẫn
    nhau trong cùng không gian
    giống như các sóng.
    - Lớp vật chất “thô”
    nhất có tính hữu hình (lớp
    vật lý), còn các lớp khác
    đều vô hình, mắt người
    thường không thể nhìn
    thấy.
    - Trong số các lớp vật
    chất vô hình có một lớp
    “tinh” nhất với những tính
    chất siêu việt như phi cấu
    trúc, phi không gian và phi
    thời gian, bất biến và vĩnh
    cửu, thẩm thấu vào tất cả
    mọi vật lớn, nhỏ và tạo cho
    chúng “tính biết” hay “phật
    tính”.
    - Cơ thể người và
    động vật bao gồm một lớp
    vật chất hữu hình và nhiều
    lớp vật chất vô hình. Cái
    chết vật lý của một sinh
    vật chỉ tiêu huỷ lớp hữu
    hình của nó, còn các lớp vô
    hình sẽ được tái cấu trúc
    cho phù hợp với điều kiện
    sống của cảnh giới mới.
    - Mọi cấu trúc vật
    chất đều thể hiện “tính
    biết” của chúng từ thấp
    đến cao. Ý thức con người
    không phải do phần đầu
    sinh ra, bộ não đóng vai trò
    thu nhận và tái tạo tín hiệu
    ý thức từ toàn bộ cơ thể
    một cá nhân. Cũng giống
    như trong hệ điều hành
    máy tính Windows, chiều
    thực tại “hiện hành” của
    con người là thế giới vật
    lý, cho nên các giác quan
    chỉ sáng tỏ trước những
    vật hữu hình.
    - Vong linh (hồn) là
    thực thể người không còn
    cơ thể vật lý. Phật, Thánh,
    Thần là những hồn có năng
    lực tâm linh đặc biệt và có
    thể hiện hữu tại những lớp
    vật chất khác nhau.
    - Các cấu trúc vi mô
    như lượng tử ánh sáng
    (photon), nguyên tử, phân
    tử, tế bào... và các cấu trúc
    vĩ mô như Trái đất, Hệ mặt
    trời, Thiên hà... đều có lý
    trí ở một mức nhất định.
    Điều này cũng giống như
    sự kiện về con người: mỗi
    cá nhân là một cấu trúc vô
    cùng phức tạp, trong đó có
    một số khổng lồ gần 100
    ngàn tỷ tế bào liên kết
    chặt chẽ với nhau...
    Trên đây chỉ là một số
    khía cạnh căn bản liên
    quan đến nền tảng lý
    thuyết về các cõi giới vô
    hình, được xem xét khá tỷ
    mỷ trong cuốn sách “Vũ trụ
    và con người dưới góc độ
    khoa học tâm linh” do nhà
    xuất bản Văn hoá dân tộc
    ấn hành năm 2006 và tạp
    chí Thế Giới Mới số 732
    giới thiệu.
    Như vậy, việc thừa
    nhận thế giới tâm linh với
    những thực thể vô hình có
    lý trí không phải là điều
    phi khoa học. Ở đây cần
    phải chấp nhận một định
    đề do các minh sư đã chỉ
    ra: tồn tại một lớp vật chất
    vô hình “tinh” nhất với
    những tính chất siêu việt.
    2. Hiện tượng giáng
    bút
    Giáng bút là phương
    thức vong linh truyền
    thông tin văn bản cho con
    người. Người có khả năng
    nhận tin được gọi là ghế
    đồng hoặc ngắn gọn là
    đồng. Giáng bút có thể
    diễn ra một cách thụ động
    hoặc chủ động đối với
    người nhận tin. Thông tin
    từ vong linh thường được
    diễn đạt theo văn vần, tựa
    như các bài thơ. Dung
    lượng văn bản giáng bút
    mỗi lần có thể chỉ ít dòng,
    mấy trang, hàng chục trang
    hoặc thậm chí hơn trăm
    trang.
    Ngôn ngữ giáng bút
    thường bằng chữ Việt, một
    số đồng còn ghi được chữ
    Âm hoặc chữ Thiên tựa
    như chữ Phạn (một cổ ngữ
    Ấn Độ hay được dùng cho
    việc tế lễ). Kiểu chữ giáng
    bút thường phụ thuộc vào
    kỹ năng ghi chép của đồng.
    Có trường hợp tay đồng bị
    điều khiển để viết ra kiểu
    chữ của hồn khi còn sống.
    Nội dung thông tin
    giáng bút liên quan đến vô
    số khía cạnh cuộc sống
    của con người và thế giới
    tâm linh. Một số bài giáng
    bút ở dạng khó hiểu như
    mật mã, cho nên cần phải
    có khoá để mở.
    Không phải tất cả các
    nội dung giáng bút đều
    đúng đắn và trung thực.
    Nên kiên nhẫn và thận
    trọng khi đọc tư liệu giáng
    bút. Việc phân biệt thực hư
    về tư liệu giáng bút phần
    lớn phụ thuộc vào vốn hiểu
    biết, kinh nghiệm và quan
    điểm của người xử lý
    thông tin.
    Tại nước ta, hiện
    tượng giáng bút đã xảy ra
    khá phổ biến hơn ba chục
    năm qua. Mỗi đồng đều có
    thể độc lập làm nhiệm vụ
    của mình tại nhà chỉ bằng
    cây bút và quyển vở.
    Nhưng cách đây hơn một
    thế kỷ, hiện tượng giáng
    bút ở Việt Nam thường
    diễn ra trong các Thiện
    đàn - nơi tụ họp của những
    người theo Đạo Thiện.
    Việc giáng bút do 4 người
    đảm nhận: đồng dùng bút
    viết các nét chữ lên một
    cái mâm để người khác
    nhận diện và đọc cho hai
    người chép lại. Văn tự lúc
    đó là chữ Nôm. Tại Viện
    Nghiên cứu Hán Nôm, hiện
    vẫn lưu giữ 254 bộ sách
    giáng bút của 98 Thiện đàn
    để lại trong thời gian
    1845-1945.
    Đầu năm 2007, Nhà
    xuất bản Lao Động đã cho
    ấn hành tập thơ văn giáng
    bút “Kinh Đạo Nam” của
    Đức Mẫu Liễu Hạnh cùng
    các vị Thánh khác (Giáo
    sư Đào Duy Anh sưu tập -
    khảo chứng và nhà nghiên
    cứu Nguyễn Thị Thanh
    Xuân phiên âm - chú thích).
    Tác phẩm Kinh Đạo Nam
    (những lời chỉ giáo cho
    Đạo nước Nam) đã thu
    được trong hai tháng 9-10
    âm lịch năm 1923.
    3. Đồng thánh và đồng

    Khi tìm hiểu thế giới
    tâm linh qua các đồng, một
    trong những khía cạnh
    then chốt cần được phân
    biệt rạch ròi ngay từ đầu là
    vai trò “thánh” hoặc “tà”
    của họ. Nói một cách đơn
    giản, các đồng thánh làm
    nhiệm vụ do Thánh Thần sở
    tại giao phó vì những mục
    tiêu ích nước, lợi dân và
    phù hợp với luật thiên âm.
    Trái lại, công việc của các
    đồng tà thường bị điều
    khiển bởi những vong linh
    bất thiện, đặc biệt trong
    số đó là những tà tinh độc
    ác vốn là hồn giặc ngoại
    xâm tồn đọng ở nước ta từ
    xưa đến nay. Điều hết sức
    hiểm độc là đồng tà cũng
    có những năng lực tâm linh
    cao siêu và có thể xưng
    Cha hay Mẹ, giả mạo các vị
    Tâm Linh thiêng liêng như
    Bác Hồ, Trần Hưng Đạo,
    Liễu Hạnh, Thánh Gióng...
    nhằm lôi kéo nhiều người
    đi theo để tăng uy thế và
    lợi lộc cho mình.
    Bởi vì giới khoa học và
    các cấp chính quyền vẫn
    còn mơ hồ về sự tồn tại
    những hiện tượng tâm linh
    có thực trong đời sống
    thường ngày, nên các hành
    vi “đồng thánh” hay “đồng
    tà” chưa được phân biệt
    rành mạch và thường bị
    đồng nhất. Quan điểm như
    vậy tạo điều kiện rất thuận
    lợi cho bọn giặc âm tự do
    hoành hành khắp nơi ở
    nước ta. Đây là một vấn
    nạn ngoại xâm cực kỳ nguy
    hiểm thời bình mà Thánh
    Thần Việt đã liên tục đưa
    ra nhiều thông tin cảnh báo
    hơn mười năm qua, nhưng
    đến nay các nhà nghiên
    cứu và các cấp chính
    quyền vẫn chưa thực sự
    tỉnh ngộ.
    4. Trụ sở Tâm Linh
    Kể từ ngày 01 tháng
    01 năm 2001, sự hiện hữu
    của Tâm Linh nước nhà đã
    chuyển sang một thời kỳ
    mang tính bước ngoặt lịch
    sử: Thánh Thần thông qua
    đồng đã ra tuyên bố khai
    sinh Quốc gia Âm Việt Nam
    do Hồn Bác Hồ đứng đầu.
    Chúng tôi đã tìm hiểu rất
    kỹ hàng trăm trang tư liệu
    ngoại cảm viết về vấn đề
    này và nhận thấy rằng, đây
    thực sự là một sự nghiệp
    tâm linh vĩ đại mở đầu cho
    kỷ nguyên phát triển mới
    của dân tộc ta và toàn thể
    nhân loại.
    Lời tuyên bố của Tâm
    Linh Việt về Quốc gia Âm
    đầu tiên trên thế giới do
    thủ nhang đền Hoà Bình là
    bà Phạm Thị Xuyến ghi ra
    theo lời Thánh đọc. Trên
    cơ sở khảo sát hàng chục
    ngàn trang tư liệu giáng
    bút từ nhiều đồng khắp cả
    nước, có thể tin chắc điều
    sau đây: đền Hoà Bình hiện
    nay đang gánh vác trọng
    trách “Trụ sở Tâm Linh”
    hay còn được gọi là Trụ sở
    Âm Thiên, Toà Tâm Linh
    của Việt Nam. Từ mười
    năm qua, đền Hoà Bình là
    nơi duy nhất có các đồng
    thực hiện những nhiệm vụ
    đặc biệt như:
    - Ghi kinh sách hoàn
    chỉnh về thiên niên kỷ tâm
    linh này;
    - Công bố các luật
    thiên âm mới;
    - Ghi ra Sử Trời, Sử
    Nước;
    - Công bố Lệnh sàng
    đồng lọc đạo ở nước Nam;
    - Tiến hành công việc
    sàng đồng lọc đạo;
    - Giải tà tinh là những
    hồn giặc ở nước ta đâu trở
    về đấy;
    - Hàn gắn long mạch
    cho những nơi đất công bị
    đứt gãy;
    - Tạ mồ các danh nhân
    và liệt sĩ khắp cả nước;
    - Tham gia công việc
    trấn trị các ổ tà tinh trong
    lòng đất;
    - Tiến hành các khoá
    đàn, lễ tâm linh lớn;
    - Soi phần âm và giải
    nghiệp cho các gia đình
    v.v...
    Đền Hoà Bình cũng là
    nơi đã đào tạo ra một đội
    ngũ đồng thánh đông đảo,
    có kỷ luật, gắn kết chặt chẽ
    với nhau và tự giác làm
    nhiệm vụ khi cần. Điều rất
    đặc biệt là các đồng ở đây
    đều có bóng Thánh Thần
    trợ giúp trực tiếp, cho nên
    tất cả họ đều có khả năng
    viết chữ Thiên và vẽ đồ
    hình bí ẩn trong quá trình
    làm việc. Trưởng đoàn
    đồng Hoà Bình là bà Phạm
    Thị Xuyến, sinh năm 1948,
    gần bốn chục năm qua đã
    được Thánh Thần chỉ dạy
    kiên trì, huấn luyện bài bản
    và trao trọng trách nặng nề
    về hoạt động tâm linh. Bà
    Xuyến có thể đọc và viết
    chữ Thiên, nghe rõ tiếng
    của bóng Thánh và viết ra
    như ghi chính tả. Đã có
    hàng trăm bài tư liệu ngoại
    cảm do bà ghi lại đề cập
    đến nhiều khía cạnh tâm
    linh quan trọng.
    Năm 2008, một số tư
    liệu ngoại cảm và hiện
    tượng lạ ở đền Hoà Bình
    đã được Trung tâm Nghiên
    cứu tiềm năng con người
    (NC TNCN) đưa vào kế
    hoạch khảo sát, tìm hiểu
    trong đề tài “Nghiên cứu
    một số người có khả năng
    nhận thông tin từ vong linh
    các danh nhân” do TS.
    Phạm Văn Khiển chủ trì.
    Nội dung của đề tài này đã
    được đánh giá cao và
    nghiệm thu phần 1 vào đầu
    quý 2 năm 2009.
    Một số nhà khoa học
    nổi tiếng quan tâm đến
    vấn đề tâm linh ngoại cảm -
    như GS. VS. Đào Vọng
    Đức, nguyên Giám đốc
    Trung tâm NC TNCN - cũng
    đã tới đền Hoà Bình để tận
    mắt chứng kiến những khả
    năng và công việc phi
    thường của các đồng.
    5. Sử Trời, Sử Nước
    Như trong phần “Có
    tồn tại thế giới tâm linh?”
    ở trên đã chỉ ra, mỗi cấu
    trúc vi mô hay vĩ mô đều
    thể hiện một mức độ nhất
    định về “tính biết” hay
    “phật tính”, điều này kéo
    theo một năng lực hữu hình
    hoặc vô hình tương ứng. Ví
    dụ: một cái cây, một con
    vật hay một người có biểu
    hiện năng lực sống khác
    biệt nhau. Rõ ràng, mỗi cá
    thể sinh vật đều mang tính
    “vĩ mô” so với hàng chục
    ngàn tỷ tế bào “vi mô”
    chứa trong nó. Mặt khác,
    chúng ta có thể hình dung
    là bất kỳ tế bào nào trong
    một cơ thể sống dù “thông
    minh” đến đâu cũng khó
    biết được cặn kẽ về năng
    lực thực sự của cái tổng
    thể mà trong đó nó tồn tại.
    Điều này gợi ra ý tưởng
    tương tự để tìm hiểu và có
    niềm tin vào sự tồn tại Cha
    Thiên, Mẹ Địa (Cha Trời,
    Mẹ Đất) vốn được viết
    nhiều trong các tư liệu
    ngoại cảm.
    Nói một cách khái
    quát, “Cha Thiên” và “Mẹ
    Địa” là những năng lực vĩ
    mô cụ thể đã tạo nên vạn
    vật trên hành tinh chúng ta.
    Ở đây “Đất” đặc trưng cho
    khía cạnh hữu hình, còn
    “Trời” - khía cạnh vô hình.
    Một số nhà nghiên cứu
    ngoại cảm trên thế giới tin
    tưởng sâu sắc vào sự tồn
    tại trường thông tin của
    Trái đất, nơi ghi lại đầy đủ
    những dữ liệu về lịch sử
    tiến hoá sự vật và quá trình
    phát sinh sự sống. Các bản
    ghi của trường thông tin đó
    có lẽ phần nào cũng giống
    như vô số ký ức tồn tại
    trong bộ não con người.
    Vấn đề khó khăn là bằng
    cách nào có thể tiếp cận
    được trường thông tin để
    biết được những nội dung
    cụ thể vô cùng hấp
    dẫn?
    Một trong những
    phương thức thu nhận dữ
    liệu từ trường thông tin
    Trái đất là nhờ sự giúp đỡ
    của những vong linh đặc
    biệt và đáng tin cậy (Phật,
    Thánh, Thần) qua giao tiếp
    bằng lời. Điều bất ngờ và
    lý thú là trong số các tư
    liệu ngoại cảm do bà Phạm
    Thị Xuyến ghi lại có nhiều
    bài liên quan đến “Sử
    Trời” và “Sử Nước”, nói về
    nguồn gốc loài người trên
    thế giới và nguồn gốc dòng
    tộc Việt. Khía cạnh này có
    ý nghĩa rất to lớn đối với
    toàn bộ nền văn minh nhân
    loại trong thế kỷ 21 này.
    Nguồn gốc loài người
    - Theo tư liệu ngoại cảm,
    con người không phải có
    nguồn gốc từ bất kỳ loài
    vượn nào. Con người đã
    được tạo ra với thân thể
    và lý trí khác biệt loài vật
    ngay từ đầu. Việt Nam
    chính là quê hương của
    nhân loại và Cha Thiên -
    Mẹ Địa đã sinh ra đàn con
    của mình tại nơi đền Hạ
    (tỉnh Phú Thọ).
    Sự xuất hiện loài
    người được Sử Trời mô tả
    như sau:
    Thời xa xưa, vào một
    đêm giông tố đất chuyển
    trời rung, sấm chớp rực
    sáng, tại nơi đền Hạ ngày
    nay sau ba tiếng sấm vang
    rền đã xuất hiện từ Đất
    1000 bé sơ sinh nhỏ xíu, rồi
    tất cả chen chúc nhau
    đứng lên. Sáng hôm sau,
    200 bé đã bị giẫm nát, 800
    bé còn lại lớn nhanh như
    người trưởng thành. Số
    người đó vừa trai vừa gái
    có màu da, tóc trắng - đen -
    vàng - đỏ khác nhau và nói
    nhiều thứ tiếng. Họ được
    Cha Thiên Mẹ Địa miệt mài
    dạy dỗ lời ăn tiếng nói
    trong ba ngày liên tục.
    Trong số các con khôn
    lớn được sinh ra, Cha Mẹ
    đã ấn định một cặp song
    loan con trưởng - con thứ
    là Lạc Long Quân - Âu Cơ
    và xe duyên cho những cặp
    con khác. Tiếp đó, các con
    được phân đến nhiều khu
    vực trên thế giới để trở
    thành thủy tổ của những
    dòng tộc sau này: nước bé
    chỉ có một cặp, còn nước
    lớn - từ hai, ba cho đến
    bảy, tám cặp.
    Trong ba ngày, việc di
    chuyển của các con được
    thực hiện theo phép Trời.
    Sau khi mọi sự được sắp
    xếp ổn định thì các phép
    mầu chấm dứt và Cha
    Thiên - Mẹ Địa đã hóa tại
    đỉnh Tây Thiên của dãy núi
    Tam Đảo (Vĩnh Phúc) vào
    ngày mùng Ba tháng Ba âm
    lịch. Dù mấy nghìn năm đã
    qua, nhưng Việt Nam vẫn
    được Trời Đất ghi nhận là
    Nước Con Đầu. Trong kỷ
    nguyên này, nước ta được
    Thiên trao trọng trách
    đứng đầu tâm linh toàn thế
    giới và được viết Sử Trời
    để công bố cho những
    quốc gia khác biết.
    Nguồn gốc dòng tộc
    Việt - Theo tư liệu ngoại
    cảm nói về lịch sử nước ta
    (Sử Nước), Cha Lạc Long
    Quân và Mẹ Âu Cơ chính là
    Thuỷ Tổ thực sự của dòng
    tộc Việt, chứ không phải là
    truyền thuyết huyền hoặc.
    Theo Sử Nước, nguồn gốc
    sinh thành dòng tộc Việt
    được mô tả như sau:
    Phép Trời giáng cho
    Mẹ Âu Cơ sinh một lần
    được trăm trứng, rồi nở
    thành 50 gái, 50 trai và mỗi
    con được đặt họ riêng. Các
    con đã khôn lớn sau khi
    sinh ba ngày và đúng một
    trăm ngày thì đàn con
    được chia thành hai nửa
    tạm thời xa nhau: 50 gái
    theo Mẹ lên miền rừng, còn
    50 trai theo Cha về vùng
    biển sinh sống. Việc làm
    cấy trồng, hái lượm hoa
    quả trên ruộng nương hay
    mò cua bắt cá ở sông biển
    do Ông Thần Nông dạy bảo.
    Sau một năm (365 ngày),
    tất cả các con trở lại tập
    trung ở nơi đền Hạ ngày
    nay để họp mặt, ăn quà vui
    vẻ, rồi nghe Cha Mẹ kể
    chuyện về Tổ Trời Đất và
    dặn dò những điều cần
    thiết trước thời điểm ly
    biệt.
    Sau khi bàn bạc thống
    nhất và được Trời Đất
    cho phép, Cha Mẹ sắp các
    con thành những cặp vợ
    chồng để rời đi các ngả
    sinh dưỡng nòi giống dòng
    tộc. Tất cả các con được
    lưu ý luật Thiên sau đây:
    họ của người nam là nội
    tộc, họ của người nữ là
    ngoại tộc, con cái mang họ
    cha; bên nội chỉ được lấy
    nhau qua 12 đời, còn bên
    ngoại - qua 5 đời. Người
    con trưởng đứng đầu lập
    ra nước Văn Lang sau này,
    đó chính là Hùng Vương -
    Ông Tổ nước ta.
    Ngay trong ngày chia
    ly với các con, Cha Lạc
    Long Quân và Mẹ Âu Cơ đã
    hoá về Thiên cũng tại đỉnh
    Tây Thiên của dãy núi Tam
    Đảo (Vĩnh Phúc), nơi Cha
    Trời Mẹ Đất trước đây đã
    từ giã đàn con của mình.
    Điều đặc biệt là Thuỷ Tổ
    của dòng tộc Việt cũng hoá
    đúng ngày mùng Ba tháng
    Ba âm lịch.
    Sự lầm lẫn và bịa đặt
    lịch sử - Nhiều tư liệu
    giáng bút thời gian gần đây
    đều tập trung nhấn mạnh
    rằng: Thuỷ Tổ đích thực
    của dòng tộc Việt là Cha
    Lạc Long Quân và Mẹ Âu
    Cơ, còn Gốc Tổ trực tiếp
    của tất cả các thuỷ tổ dòng
    tộc trên thế giới, trong đó
    có dân tộc Việt, chính là
    Cha Thiên Mẹ Địa. Tất cả
    những gì trong tài liệu lịch
    sử nước nhà khác với kết
    luận này đều là sự lầm lẫn
    đáng tiếc của vua quan và
    nhân dân ta, hoặc do kẻ thù
    xâm lược từ hàng ngàn
    năm trước bịa đặt ra để
    đánh lừa người Việt từ
    đời này qua đời khác. Mẹ
    Cha Âu - Lạc không để lại
    mồ mả gì cả.
    Trong các thời kỳ đất
    nước bị ngoại xâm cai trị,
    bọn người cướp nước và
    bán nước với ý đồ thâm
    độc đã thúc ép việc xây mộ
    giả kiên cố, tạo dựng các
    đền thờ uy nghi ở nhiều nơi
    và yểm hồn tà ác để tranh
    giành ngôi thuỷ tổ của
    nước ta lâu dài. Các tư liệu
    ngoại cảm cũng cảnh báo
    điều hiển nhiên sau đây:
    không nên tin lời người
    xưa viết - đặc biệt là
    những sử gia của các nước
    đã từng là kẻ xâm lược
    nhiều lần thôn tính nước ta
    - vì người cổ sơ đã biết
    chữ đâu để lưu lại thông
    tin cho hậu thế.
    Đáng tiếc là các nhà
    viết sử Việt Nam chưa
    thực sự thấu hiểu điều đó.
    Nhưng đây cũng là một vấn
    đề khó tìm ra lối thoát vì
    việc viết sử không thể
    không dựa vào các nguồn
    văn tự liên quan đã và đang
    tồn tại ở trong và ngoài
    nước. Có lẽ bằng cách như
    vậy, vào năm 1479 sử gia
    Ngô Sĩ Liên đã chép trong
    “Đại Việt sử ký toàn thư”
    về Thuỷ Tổ người Việt
    như sau:
    Vua Đế Minh là cháu
    ba đời của vua Thần Nông,
    khi đi tuần thú phương
    Nam, đến núi Ngũ Lĩnh
    (nay thuộc tỉnh Hồ Nam,
    Trung Quốc) thì gặp một
    nàng tiên, lấy nhau đẻ ra
    người con tên là Lộc Tục.
    Sau Đế Minh truyền ngôi
    lại cho con trưởng là Đế
    Nghi làm vua phương Bắc
    (từ núi Ngũ Lĩnh về phía
    Bắc), phong cho Lộc Tục
    làm vua phương Nam (từ
    núi Ngũ Lĩnh về phía Nam),
    xưng là Kinh Dương
    Vương, quốc hiệu là Xích
    Quỷ. Kinh Dương Vương
    làm vua Xích Quỷ vào năm
    Nhâm Tuất 2897 trước
    Công nguyên, lấy con gái
    Động Đình Hồ quân (Thần
    Long) là Long Nữ, rồi đẻ ra
    Sùng Lãm, nối ngôi vua và
    xưng là Lạc Long Quân. Sau
    Lạc Long Quân lấy con gái
    vua Đế Lai (con của Đế
    Nghi), tên là Âu Cơ, đẻ một
    lần trăm người con trai.
    Một hôm, Lạc Long Quân
    bảo Âu Cơ rằng: "Ta là
    giống rồng, nàng là giống
    tiên, thủy hỏa khắc nhau,
    chung hợp thật khó". Bèn
    từ biệt nhau, chia 50 con
    theo mẹ lên vùng núi, 50
    con theo cha về miền biển,
    phong cho con trưởng làm
    Hùng Vương, nối ngôi
    vua...
    Điều đặc biệt là mấy
    chục năm qua, có nhiều
    đồng tà cũng đã nhận được
    những bản ghi ngoại cảm
    phụ hoạ sự bịa đặt lịch sử
    nói trên. Trong một số bài
    như vậy, Kinh Dương
    Vương và Lạc Long Quân
    được coi là hai thủ lĩnh
    đầu tiên trong số 18 chi
    Vua Hùng.
    Luận bàn về Thuỷ Tổ
    tộc Việt - Tại thời điểm
    này, khi bàn về Thuỷ Tổ
    tộc Việt có thể dựa vào 3
    nguồn tư liệu chính sau:
    (1) sử sách của người
    Việt và các nước khác;
    (2) tư liệu ngoại cảm
    do đồng tà ghi;
    (3) tư liệu ngoại cảm
    do đồng thánh ghi.
    Các nguồn sử sách
    Việt Nam và nước ngoài
    khi bàn đến Thuỷ Tổ tộc
    Việt đều có động chạm
    đến yếu tố tâm linh (thần
    tiên), gán ghép gốc tổ
    nước ta bắt nguồn từ nước
    khác, gián tiếp không thừa
    nhận Lạc Long Quân và Âu
    Cơ là Cha Mẹ của dòng
    giống Bách Việt vì lúc họ
    sinh 100 con trai đã có
    những người dân khác và
    không chỉ rõ bất kỳ thông
    tin nào liên quan đến
    nguồn gốc loài người. Nhìn
    chung, các chi tiết về lịch
    sử cổ sơ của nước Việt ở
    dạng như vậy vừa gây sự
    ngờ vực từ những khía
    cạnh huyền hoặc, vừa lôi
    kéo sự chú ý của người dân
    ta hướng ra nước ngoài khi
    tìm hiểu gốc rễ tổ tiên
    mình. Có lẽ đó là kịch bản
    thâm độc từ xưa đã được
    sắp sẵn với chủ ý sâu xa
    của những kẻ rắp tâm thôn
    tính nước ta muôn đời.
    Như trên đã nói tới,
    các đồng tà cũng đã ghi
    được một số bài ngoại cảm
    về Thuỷ Tổ của dòng tộc
    Việt, nhưng hầu như tất cả
    nội dung mà họ đưa ra chỉ
    có vai trò phụ hoạ và chi
    tiết hoá những gì mà các
    nguồn sử sách đã viết.
    Điều này cho thấy những
    thủ đoạn tâm linh trước
    đây của kẻ thù xâm lược
    đã và đang đạt được một
    số kết quả nhất định.
    Khía cạnh thực chất
    của vấn đề trên đây sẽ trở
    nên sáng tỏ nếu căn cứ vào
    các bài ngoại cảm do bà
    Phạm Thị Xuyến ghi ra
    trong Sử Trời và Sử Nước.
    Theo đó, trước hết là mọi
    gốc tổ của tất cả các dòng
    tộc trên thế giới đều do
    Cha Thiên Mẹ Địa sinh ra.
    Còn Thuỷ Tổ của dòng tộc
    Việt - như đã nói tới -
    chính là Cha Lạc Long
    Quân và Mẹ Âu Cơ, cặp
    song loan con trưởng - con
    thứ của Trời Đất đã sinh
    ra bọc trăm trứng, rồi nở
    thành 50 gái 50 trai và
    được Cha Mẹ xe duyên
    cùng nhau để tiếp tục duy
    trì nòi giống Bách
    Việt.
    Tuy nhiên, cách tiếp
    cận để tìm hiểu danh tính
    thực của các vị thuỷ tổ
    dòng tộc và nguồn gốc loài
    người trên cơ sở thừa
    nhận những phép mầu phi
    phàm của Trời Đất chắc
    chắn sẽ vấp phải sự phủ
    nhận kịch liệt từ những
    người vô thần, đặc biệt là
    các nhà khoa học duy vật.
    Đáng mừng là khía cạnh
    này cũng đã được Thánh
    Thần trù tính. Theo tư liệu
    ngoại cảm, sắp tới Trời
    Đất sẽ gây dựng lại niềm
    tin cho con người về thế
    giới tâm linh bằng cách cho
    xuất hiện một số hiện
    tượng siêu tự nhiên sau khi
    có thông báo thời gian và
    địa điểm xảy ra. Đặc biệt ở
    Việt Nam, hiện đã có thông
    tin về một sự kiện bí ẩn sau
    đây:
    Hơn bảy trăm năm
    trước, Hưng Đạo vương
    Trần Quốc Tuấn đã nghe
    được tiếng Thiên và đã
    ghi lại những lời huyền bí
    vào một cuốn sổ có tên là
    “Sổ Trời”. Hiện “Sổ Trời”
    được lưu giữ cẩn thận tại
    một chỗ dưới lòng đất, ở
    độ sâu khoảng năm mét, có
    người âm canh giữ và chỉ
    một mình Đức Thánh Trần
    biết. Khi nào Đảng và Nhà
    nước ta có quan điểm đồng
    thuận với thế giới tâm linh
    thì Thánh Thần sẽ chỉ rõ
    nơi cất giấu và cho phép
    khai quật.
    6. Hiện tượng tái hồn
    Theo thuyết huyền bí
    và các tư liệu ngoại cảm,
    thế giới tâm linh được quy
    ước chia thành 3 cõi là cõi
    Âm, cõi Thiên (cõi Trời) và
    cõi Phật. Hầu hết mọi
    người và loài vật sau khi
    chết đều tồn tại ở cõi Âm.
    Theo luật luân hồi, một số
    thực thể cõi Âm có cơ
    duyên đầu thai trở lại cõi
    Trần (thế giới hữu hình)
    nhằm mục đích rèn luyện,
    tích luỹ kinh nghiệm, trả
    nghiệp...
    Các sinh linh tại cõi
    Thiên vi tế hơn cư dân cõi
    Âm, các vị thường được
    gọi là Phật, Tiên, Thánh
    hoặc Thần. Mọi sinh linh ở
    cõi Trần, cõi Âm và cõi
    Thiên đều bị chi phối bởi
    luật âm dương, mà một hệ
    quả tất yếu là những suy
    nghĩ, cảm xúc và hành động
    của họ đều thuộc một trong
    hai mặt trái ngược của đời
    sống là “thiện” hoặc “ác”.
    Với mục đích trợ giúp
    hoặc gây biến động cho
    một số quốc gia hoặc toàn
    cầu, có nhiều vị Phật,
    Thánh, Thần từ cõi Thiên
    đã hoặc đang giáng Trần
    qua kiếp sống con người
    hay ở dạng tâm linh. Việc
    nhận thức đúng đắn điều
    này có ý nghĩa rất quan
    trọng đối với các quốc gia,
    đặc biệt là những nước có
    lực lượng tâm linh hùng
    mạnh như Việt Nam. Việc
    tìm hiểu tổ chức và đời
    sống của các sinh linh ở
    cõi Âm có vai trò to lớn và
    thiết thực vì có quan hệ
    mật thiết với cõi Trần và
    đó là nơi cư ngụ lâu dài
    của mỗi người chúng ta sau
    khi từ giã đời này.
    Cõi Phật chỉ gồm
    những vị Phật và những
    sinh thể dạng sóng đã tiến
    hoá rất cao.
    Các sinh linh cõi Phật
    không bị chi phối bởi luật
    âm dương. Họ tồn tại một
    cách “vô ngã” và không
    trực tiếp can thiệp vào
    những cõi thấp hơn.
    Như trong phần “Có
    tồn tại thế giới tâm linh?”
    đã đề cập tới, cơ thể con
    người bao gồm một lớp vật
    chất hữu hình (phần xác)
    và nhiều lớp vật chất vô
    hình (phần hồn). Một số
    nguồn tư liệu ngoại cảm
    cho biết rằng, mỗi vị thánh
    thần cao siêu khi đầu thai
    xuống cõi Trần vẫn được
    kết nối với một cấu trúc
    vật chất tinh tế trường tồn
    ở cõi Thiên, đó là “hồn
    thiên” hay “hồn trời”.
    Ngoài ra, một người như
    vậy khi sống ở cõi Trần
    còn có “hồn đời” là phần cơ
    thể vô hình thích ứng với
    thế giới vật lý.
    Nội dung của nhiều bài
    ngoại cảm còn cho thấy:
    một số người xuất chúng
    không cùng thời có thể có
    chung “hồn thiên” trong khi
    “hồn đời” khác nhau. Đó là
    hiện tượng “tái hồn” hay
    “tái thế”. Cần phân biệt
    hiện tượng này với sự luân
    hồi ở cõi Âm - “hồn đời”
    của một người quá cố
    được tái sinh trở lại cõi
    Trần.
    Điều vô cùng đặc biệt
    là hiện tượng “tái hồn” đã
    diễn ra khá phổ biến ở
    Việt Nam trong mấy ngàn
    năm dựng nước và đấu
    tranh chống kẻ thù xâm
    lược. Trước hết đối với
    Thuỷ Tổ tộc Việt: từ Cha
    Lạc Long Quân đã “tái hồn”
    sang các vị Đào Lang, Trần
    Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,
    Nguyễn Huệ và Nguyễn Ái
    Quốc; còn từ Mẹ Âu Cơ -
    sang Liễu Hạnh (Thánh
    Mẫu) và Hoàng Thị Loan
    (Mẫu Thân của Bác Hồ).
    Một trong những sự kiện
    tâm linh kỳ lạ liên quan
    đến cặp “tái hồn” Đào Lang
    - Liễu Hạnh là Cha Mẹ đã
    hóa về Thiên cũng vào
    ngày mùng Ba tháng Ba âm
    lịch khác năm. Như vậy,
    ngày mùng Ba tháng Ba âm
    lịch hàng năm chính là
    ngày Đại Kỵ của Tổ Trời
    Đất và Tổ Bách Việt. Vì
    vậy trong tương lai gần,
    ngày này chắc chắn sẽ
    được tổ chức trọng thể
    gần như đồng thời với ngày
    Quốc Giỗ Hùng
    Vương.
    Tư liệu ngoại cảm còn
    cho biết: Tổ Nước là Vua
    Hùng thứ nhất đã tái thế
    ra Vua Trần Nhân Tông để
    trở thành Tổ Phật của Việt
    Nam. Hơn bảy trăm năm
    qua, Phật hoàng Trần Nhân
    Tông dù đã có ngôi vị
    ngang hàng Phật Thích Ca
    và Phật Bà, nhưng Ngài đã
    bị đối xử bất công. Đó là
    hậu quả của sự tu đạo theo
    kinh sách lỗi thời, bảo thủ,
    mê muội và tăm tối về thế
    giới tâm linh.
    Một trường hợp tái
    thế điển hình có liên quan
    đến Hai Bà Trưng. Hai Bà
    trong quá khứ chính là con
    Vua Hùng. Hồn Hai Bà đã
    tái về thành Cô Quỳnh, Cô
    Quế là các con gái của
    Mẫu Liễu Hạnh. Đặc biệt,
    Hai Bà đã tái thành Đôi Cô
    ở Làng Khê Khẩu, xã Văn
    Đức thuộc huyện Chí Linh
    (Hải Dương) để giúp Phó
    nguyên soái Trần Hiển
    Đức (thời Trần, thế kỷ 13)
    chống lại giặc Nguyên
    Mông. Tư liệu ngoại cảm
    cũng nói rõ sự tích mà
    tướng công Trần Hiển Đức
    và Đôi Cô biến mất giữa
    trưa ngày mùng Một tháng
    Hai âm lịch là do phép mầu
    của Thiên sắp đặt: sau khi
    hoàn thành nhiệm vụ đánh
    giặc ngoại xâm, cả ba
    người đã bám vào một vòng
    lửa để trở về Trời. Lưu ý
    thêm là hiện giờ, Hồn Bà
    Trưng vẫn đang tái tiếp
    để giúp nước trong giai
    đoạn cách mạng tâm linh
    hiện nay và có ngày sẽ
    công khai nơi giáng cụ thể.
    Thông tin ngoại cảm
    còn chỉ ra một số nhân vật
    tái thế khác:
    - Vua Lê Thái Tổ (Lê
    Lợi, 1385-1433) đã tái về
    Vua Lê Thánh Tông
    (1442-1497);
    - Vua Đinh Tiên Hoàng
    (924-979) đã tái thành Lý
    Thường Kiệt (1019-1105)
    và sau tái tiếp là Trần
    Hiển Đức.
    7. Các luật thiên âm
    mới
    Giống như ở cõi Trần,
    trong thế giới tâm linh
    cũng ấn định những luật lệ
    thiên âm nghiêm ngặt để
    duy trì trật tự và sự hoạt
    động bình thường giữa các
    cộng đồng cư dân vô hình.
    Đặc trưng nổi bật nhất của
    các luật thiên âm là thời
    gian có hiệu lực rất lớn
    (nhiều thế kỷ) và có ảnh
    hưởng lên đời sống người
    trần - hiện tại và sau khi
    chết. Đây là điều thiết
    thực cho tất cả mọi người.
    Đáng chú ý là nhiều
    bài ngoại cảm mười năm
    qua cho thấy rằng, các luật
    thiên âm trong Thiên niên
    kỷ thứ 3 đã định ra những
    thay đổi căn bản về chủ
    quyền âm phần quốc gia và
    đời sống văn hoá tâm linh.
    Dưới đây là một số khía
    cạnh cấp thiết.
    Chủ quyền tâm linh -
    Chủ quyền tâm linh hay chủ
    quyền âm có ý nghĩa đặc
    biệt hệ trọng vì nó gắn liền
    với sự khai sinh các quốc
    gia âm. Bất kỳ người nào
    có tri thức cũng dễ dàng
    thừa nhận và thấu hiểu
    tầm quan trọng sống còn
    của khái niệm “toàn vẹn
    lãnh thổ” của mỗi nước.
    Theo ngôn từ tâm linh, đó
    chính là “chủ quyền
    dương” - chủ quyền của
    các cư dân hữu hình thuộc
    một quốc gia. Vậy mà ở
    thời đương đại, tuy con
    người vẫn tự coi mình là
    loài thông minh nhất nhưng
    vẫn không biết hay rất mơ
    hồ về khía cạnh “chủ quyền
    âm” - chủ quyền của các cư
    dân vô hình trên cùng lãnh
    thổ quốc gia.
    Theo luật thiên âm
    mới, bắt đầu từ thế kỷ 21
    cộng đồng tâm linh của mỗi
    quốc gia sẽ tự làm chủ vận
    mệnh của mình, các cư dân
    vô hình ngoại quốc không
    còn được tự do cư trú như
    trước. Việc thực thi điều
    luật trên đây sẽ dẫn đến
    những thay đổi tận gốc rễ
    về tôn thờ và đạo giáo.
    Tâm Linh Việt đã được
    Thiên cho thành lập Quốc
    gia Âm đầu tiên trên thế
    giới kể từ ngày 1 tháng 1
    năm 2001 và thực thi chủ
    quyền tâm linh của mình để
    làm hình mẫu cho các nước
    khác. Đây vừa là một ân
    phúc lớn lao của Trời Đất
    dành cho Tổ quốc Rồng
    Tiên, nhưng đồng thời
    cũng là khó khăn tột bậc
    đặt ra trước Thánh Thần
    nước nhà.
    Vấn đề đầu tiên liên
    quan đến “chủ quyền âm”
    cần được giải quyết dứt
    điểm và triệt để là công
    cuộc giải tà giặc ở đâu về
    đấy. Theo tư liệu ngoại
    cảm, tại nước ta từ trước
    đến nay đã có hàng triệu
    tên giặc ngoại xâm bị chết
    mà vong hồn của chúng đã
    bị Thiên biến thành “tà
    tinh” - một dạng sinh linh
    cõi âm không có khả năng
    được đầu thai trở lại, mục
    đích là để không một
    người Việt nào có “xác
    mình hồn thù”. Các tà tinh
    vẫn có khả năng tư duy,
    cảm xúc và thực hiện
    những hành động độc ác.
    Phần lớn chúng vẫn không
    thoát khỏi bản chất xâm
    lược ngoan cố. Chúng trú
    ngụ rải rác trên mặt đất
    hoặc tụ tập thành từng
    nhóm lớn tại các sào huyệt,
    địa đạo ở độ sâu có thể tới
    30-40 mét. Các tà tinh vốn
    là tướng giặc thâm hiểm
    vẫn rất hung hăng, ngày
    đêm ngấm ngầm luyện
    phép, chuẩn bị lực lượng
    để phục thù khi có điều
    kiện. Từ xưa đến nay, lực
    lượng tâm linh Việt cũng
    đã và đang tiến hành cuộc
    chiến quyết liệt, dai dẳng
    và đầy mưu trí để vô hiệu
    hoá các thế lực tà tinh
    ngoại bang.
    Trong năm 2008,
    Thánh Thần cùng với các
    đồng ở đoàn Hoà Bình đã
    tiến hành đợt 1 giải tà giặc
    nơi đất công và đất gia
    đình. Đợt 2 giải tà đã được
    thực hiện vào tháng 10 năm
    2009, lần này Thánh Thần
    ưu tiên truy quét giặc âm
    ẩn náu ở người dân. Dự
    kiến sẽ trục xuất tà ác
    khỏi người trần trong đợt
    giải hồn giặc lần thứ 3,
    được tiến hành trước
    ngày Đại lễ Ngàn năm
    Thăng Long - Hà Nội. Và
    cuối cùng là đợt giải tà
    vào năm 2011, 2012 - cả
    đồng và giặc âm ngoan cố
    sẽ phải vào ngục
    thần.
    Khía cạnh nan giải của
    việc truy quét toàn bộ tà
    giặc để trả chúng về cố
    quốc là chưa có sự hợp tác
    từ phía chính quyền các
    cấp, vì việc trục xuất tà
    tinh có tổ chức sẽ khó khăn
    và phức tạp hơn rất nhiều
    so với dạng tà tinh cư trú
    tự do. Thứ nhất, tà tinh có
    tổ chức thường lẩn trốn
    dưới mặt đất khá sâu,
    thành các tụ điểm (huyệt
    đạo) hoặc khu vực (địa
    đạo) mà chỉ những Thánh
    Thần với quyền năng cao
    siêu mới có thể phát hiện
    ra và bắt giữ được chúng.
    Thứ hai, số lượng tà tinh
    tại mỗi nơi như vậy có thể
    lên đến hàng trăm, hàng
    ngàn hoặc nhiều hơn;
    chúng ráo riết luyện phép
    và hoạt động dưới sự chỉ
    huy của một hồn giặc có tài,
    thâm độc và xảo quyệt.
    Thứ ba, để công việc trục
    xuất tà được tiến hành
    suôn sẻ cần phải huy động
    một đội ngũ đồng tối đa và
    tổ chức hành lễ ở những
    nơi phải được phép của
    chính quyền địa phương
    hoặc trung ương. Bởi vậy,
    hầu hết những huyệt đạo
    và địa đạo sâu có tập trung
    nhiều tà ác tuy đã bị Thánh
    Thần trấn giữ để hạn chế
    sự phá hoại của chúng,
    nhưng vẫn đang chờ đợi sự
    đồng thuận và cho phép từ
    phía chính quyền.
    Vấn đề tiếp theo nổi
    lên khi thực thi “chủ quyền
    âm” của mỗi quốc gia là
    phải nhanh chóng chấm
    dứt sự hoạt động của tất
    cả các tà đạo và tôn giáo
    ngoại quốc, dù người trần
    có đồng thuận hay không.
    Đây là việc làm bắt buộc,
    không có sự nhân nhượng
    và Tâm Linh nước sở tại
    phải giải quyết triệt để.
    Theo tư liệu ngoại
    cảm, hồn tượng của tất cả
    các nhân vật tâm linh ngoại
    quốc trên đất nước ta đều
    đã bị Thánh Thần Việt trục
    xuất hoàn toàn kể từ ngày
    31 tháng 12 năm 2000.
    Nhưng hầu hết mọi người
    không chú ý tới thông tin
    này. Có thể họ hoài nghi
    mức độ xác thực hay coi
    đó chỉ là lời tuyên bố vô
    căn cứ. Sự hoạt động của
    các đạo giáo ngoại lai vẫn
    diễn ra ngày càng mạnh mẽ,
    đa dạng và lan tràn khắp
    nơi cho dù đã có những lời
    chỉ trích đanh thép từ phía
    Thánh Thần. Các vị tâm
    linh nước ta trong nhiều
    bài ngoại cảm đã nhân
    danh “Hồn Trời - Hồn
    Nước” tận tình phân giải
    ngọn nguồn, nhưng những
    người đứng đầu tôn giáo
    vẫn tỏ ra khinh suất.
    Dù vậy, sớm muộn thì
    người trần cũng sẽ nhận
    thức được những điều sơ
    đẳng sau đây:
    - có tồn tại cộng đồng
    dân cư vô hình của thế giới
    tâm linh trên lãnh thổ của
    mỗi quốc gia;
    - sự hoạt động tôn giáo
    ngoại lai không thể được
    phép tồn tại tự do trong
    một quốc gia có chủ quyền
    tâm linh;
    - thứ bậc của luật
    thiên âm cao hơn luật trần,
    cho nên khi có sự mâu
    thuẫn giữa hai luật đó thì
    quốc gia dương buộc phải
    sửa đổi quy định tương
    ứng của mình;
    - luật thiên âm thường
    được công bố qua tư liệu
    giáng bút tại thời điểm
    giao ban thiên niên kỷ;
    - việc vi phạm luật
    thiên âm sẽ bị nghiêm trị
    khắt khe và nặng hơn rất
    nhiều so với luật trần.
    Rõ ràng, vấn đề thứ
    hai trên đây có thể được
    giải quyết bằng con đường
    “hoà bình” chỉ khi các nhà
    lãnh đạo chủ chốt của mỗi
    quốc gia và những người
    đứng đầu tôn giáo hội đủ
    các mặt về trí tuệ, đạo đức
    và thực sự vì dân vì nước.
    Ngọc Phật Hồ Chí
    Minh - Chúng ta đều biết
    Chủ tịch Hồ Chí Minh
    (1890-1969) là vị lãnh tụ vô
    cùng kính yêu của dân tộc
    Việt Nam và là danh nhân
    nổi tiếng thế giới. Nhưng
    khi thấy nhiều bài giáng
    bút nói đến danh vị tâm
    linh mười năm nay của
    Người là Ngọc Phật Hồ Chí
    Minh do Trời ban chức ở vị
    trí cao nhất Toà Phật - Toà
    Thánh và vượt xa Phật
    hoàng Trần Nhân Tông,
    Phật Thích Ca và Phật Bà,
    thì nhiều người phân vân.
    Đây thực sự là điều đáng
    tiếc và cần được làm sáng
    tỏ.
    Theo tư liệu ngoại
    cảm, sau khi mất Hồn Bác
    đã nhận công việc Thiên
    của Toà Phật - Toà Thánh
    toàn cầu, ngày đêm dồn mọi
    sức lực và tâm trí để lo
    gấp việc đời, việc trời của
    nước ta và thế giới. Công
    lao to lớn của Chủ tịch Hồ
    Chí Minh đã được Toà
    Trời đánh giá vượt bậc.
    Hơn nữa, vì Bác là tái thế
    của Hồn Thuỷ Tổ dòng tộc
    Việt và Lạc Long Quân là
    Con Trưởng của Cha Thiên
    Mẹ Địa, cho nên Người
    được Thiên tin cậy trao
    trọng trách tối thượng vào
    thời điểm giao ban thiên
    niên kỷ - Ngọc Phật Hồ Chí
    Minh mãi mãi đứng đầu
    hàng Phật hàng Thánh trên
    Trời, dưới Đời. Đó là ân
    phúc vô cùng lớn của dòng
    tộc Bách Việt đã được
    Trời Đất ưu ái và cho sinh
    dưỡng những người con
    xuất chúng để gánh vác
    vai trò tâm linh số một của
    Nước Con Đầu trong Thiên
    niên kỷ này.
    Văn hoá tâm linh - Có
    thể hiểu “văn hoá tâm linh”
    là những hoạt động của con
    người trong sự tương tác
    với thế giới tâm linh nhằm
    thoả mãn một phần đời
    sống tinh thần và vật chất
    của mình. Từ xưa đến nay,
    văn hoá tâm linh luôn bao
    hàm hai khía cạnh then
    chốt sau đây trong mối
    quan hệ đan xen nhau: tôn
    thờ và tu đạo. Rõ ràng, sự
    hoạt động tôn thờ và tu đạo
    hàng ngàn năm qua của loài
    người trên Trái đất đã
    diễn ra rất tuỳ tiện, không
    quan tâm đến hậu quả nguy
    hại từ thế giới vô hình. Có
    lẽ điều này là một trong
    những nguyên nhân sâu xa
    dẫn đến nhiều cuộc chiến
    xâm lược hết sức tàn bạo
    và kéo dài. Luật thiên âm
    mới về chủ quyền tâm linh
    của thiên niên kỷ này đã
    đặt dấu kết thúc cho việc
    tôn thờ và tu đạo phản lại
    tổ tông cũng như quyền lợi
    của mỗi quốc gia.
    Nói đến văn hoá tâm
    linh không thể không tính
    đến sự hiện hữu khách
    quan của cộng đồng cư dân
    vô hình nước nhà. Việc tôn
    thờ và tu đạo tự do theo
    các kiểu tôn giáo ngoại lai
    đi ngược hoàn toàn đạo lý
    “uống nước nhớ nguồn”
    của dân tộc ta và xâm phạm
    thô bạo chủ quyền quốc gia
    về tâm linh. Bắt đầu từ thế
    kỷ 21, Phật Thánh Thần
    nước ta do Hồn Bác Hồ
    đứng đầu đã cho công bố
    rộng rãi về việc thực hiện
    chủ trương tôn thờ mới
    theo luật thiên âm - đó là
    “Đạo Tâm Linh Việt Nam”
    hay “Đạo Bác Hồ” với nội
    dung khái quát sau đây:
    - Tâm Linh Việt Nam
    hoàn toàn làm chủ ngôi thờ
    của mình;
    - Những nơi tập trung
    như đền, chùa, phủ... dành
    để tôn thờ Tổ Trời, Tổ
    dòng tộc Việt, Tổ Nước,
    Phật Thánh Thần và danh
    nhân có công với nước
    cùng với các liệt sĩ.
    Thành tựu to lớn đầu
    tiên của quá trình hiện thực
    hóa “Đạo Bác Hồ” khi bước
    sang Thiên niên kỷ mới là
    Thánh Thần Việt Nam đã
    trục xuất toàn bộ hồn
    tượng của các nhân vật
    ngoại quốc không còn
    được phép cư trú tại nước
    ta kể từ ngày 31-12-2000.
    Gần mười năm nay, Tâm
    Linh nước nhà cũng đã
    nhiều lần đưa ra lời cảnh
    cáo lặp đi lặp lại: việc tiếp
    tục xây chùa, đúc tượng và
    hành đạo ngoại lai là vô
    ích, vi phạm luật thiên âm,
    phản lại tổ tông và sẽ bị
    trừng trị tương xứng. Thật
    tiếc là thông tin trên đây
    không có tác dụng đáng kể
    đối với những người có
    trách nhiệm. Nguyên nhân
    có thể là do hầu hết người
    trần chỉ là những cá nhân
    vừa mù vừa điếc trước
    thế giới tâm linh và tự tin
    thái quá.
    Cũng liên quan đến
    đời sống văn hóa tâm linh,
    dưới đây còn một số khía
    cạnh khác cần được người
    trần chú ý để tránh lãng
    phí và sai phạm kéo dài:
    1. Kể từ đầu năm 2001
    đến nay, luật thiên âm mới
    không cho phép việc sản
    xuất, buôn bán và sử dụng
    các loại hàng mã. Khi chính
    quyền trần đồng thuận với
    việc này thì nên có điều
    luật cấm tương ứng để
    cùng phối hợp thực hiện.
    Nếu ai có lòng thành thì
    cúng tiền, vàng thật, đồ vật
    thật để sử dụng hữu ích
    thực sự.
    2. Luật thiên âm quy
    định chấm dứt việc hầu
    Thánh kể từ cuối năm
    2000. Các đồng hầu Thánh
    trước đây đã bị giải căn
    hầu, cho nên không còn khả
    năng như cũ. Những ai còn
    tổ chức hầu Thánh là bịa
    đặt hoặc do tà thần sai
    khiến.
    3. Luật thiên âm không
    ngăn cấm việc cúng mặn
    tại những cửa thờ Thiên
    Đài (thờ Thánh Thần). Tuỳ
    lòng thành và điều kiện
    thực tế, có thể cúng mặn
    chay đều được.
    8. Những việc làm cấp
    thiết
    Trong tập tư liệu
    ngoại cảm này đã chỉ ra
    những công việc cấp thiết
    đòi hỏi Đảng, Nhà nước và
    chính quyền các cấp quan
    tâm thực hiện trước khi
    quá muộn. Dưới đây là một
    số nội dung cụ thể.
    Chính thức công nhận
    Đạo Bác Hồ - Thánh Thần
    Việt đã cho công bố Đạo
    Bác Hồ được gần 10 năm.
    Mặc dù đã có nhiều bài
    giáng bút nhân danh “Hồn
    Trời - Hồn Nước” gửi tới
    các nhà lãnh đạo Đảng và
    Nhà nước ta, nhưng chưa
    có phản hồi. Đây thực sự là
    điều đáng tiếc, vì sự chậm
    trễ có thể dẫn đến những
    hậu quả khôn lường đối
    với đất nước và nhân
    dân.
    Qua tập tư liệu giáng
    bút này, các vị đứng đầu
    Tổ Tông Việt Nam một lần
    nữa lại tha thiết nhắn gửi
    đến những người có trách
    nhiệm cao nhất của Đảng
    và Nhà nước ta hãy suy
    nghĩ mọi khía cạnh thấu
    tình đạt lý để ra quyết
    định chính thức về việc
    thừa nhận Đạo Bác Hồ, làm
    cơ sở pháp lý cho người
    dân tự do hành lễ.
    Phối hợp sàng đồng
    lọc đạo tà - Hiện nay ở
    nước ta có rất nhiều đồng
    do hồn giặc sai khiến, giả
    danh Phật Thánh Thần
    nước Nam lập ra những tà
    đạo huyền hoặc để lừa gạt
    nhân dân. Thánh Thần
    mong muốn cùng hợp tác
    với Nhà nước để tổ chức
    các cuộc sát hạch đồng
    thánh - đồng tà, từ đó sẽ
    biết rõ những người nào
    đang bị hồn tà thao túng để
    vô hiệu hóa hoặc giảm
    thiểu những hậu quả xấu
    có thể xảy ra.
    Hoàn thành đền thờ
    Mẫu Hoàng - Ngoài công
    lao to lớn đã sinh dưỡng
    Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ
    đại, Mẫu Hoàng Thị Loan
    còn là người có chung Hồn
    Thiên bất tử với Mẫu Âu
    Cơ và Mẫu Liễu Hạnh. Vì
    vậy, Trời và Tổ Tông Việt
    đã dành sẵn chỗ để xây
    Ngôi Đền Quốc Gia ở khu
    vực lăng mộ Mẫu Hoàng
    trên núi Đại Huệ thuộc địa
    phận xã Nam Giang, huyện
    Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
    Việc xây Đền Mẫu Hoàng
    đã được Thánh Thần nước
    ta dự kiến hoàn thành
    trong năm 2010, nhân dịp
    Đại lễ Ngàn năm Thăng
    Long - Hà Nội.
    Bố trí lại tượng thờ ở
    chùa Đồng Yên Tử - Dấu
    tích chùa Đồng Yên Tử
    (Uông Bí - Quảng Ninh) là
    do Trời Đất đã tạo ra để
    tôn thờ riêng Phật hoàng
    Trần Nhân Tông. Hơn 700
    năm trước, Ngài đã được
    Thiên xếp ngang hàng Phật
    Thích Ca và Phật Bà. Vậy
    mà sư sãi và người dân
    không biết, nên đã đối xử
    quá bất công với Phật Tổ
    Trúc Lâm. Nay Thánh Thần
    Việt yêu cầu ngành văn hoá
    Quảng Ninh và giới phật
    giáo gấp rút sửa sai thờ tự
    tại chùa Đồng Yên Tử: trên
    bệ thờ chỉ để lại tượng
    Phật Trần Nhân Tông, còn
    tượng của các vị Thích Ca,
    Pháp Loa và Huyền Quang
    phải đưa ra khỏi chùa.
    Dừng tu sửa và xây
    đền thuỷ tổ giả - Như trong
    phần “Sử Trời, Sử Nước”
    đã chỉ rõ, Thuỷ Tổ dòng
    tộc Việt là Cha Lạc Long
    Quân và Mẹ Âu Cơ, còn
    Gốc Tổ của họ chính là
    Cha Thiên Mẹ Địa. Như
    vậy, Kinh Dương Vương
    không phải là thuỷ tổ nước
    ta. Đó chỉ là sự bịa đặt lâu
    đời do các thế lực ngoại
    xâm trước đây tạo ra để
    đánh lừa vua quan và dân
    nước Nam. Mọi sắc phong
    và sử sách coi Kinh Dương
    Vương là thuỷ tổ dòng tộc
    Việt đều là giả. Các ban
    ngành văn hoá và nhân dân
    không nên tiếp tục tôn tạo,
    xây đền và tổ chức lễ hội
    để vinh danh Kinh Dương
    Vương.
    Theo tư liệu ngoại
    cảm, hiện có ba nơi thuỷ tổ
    giả đã bị giặc tà xây đền và
    yểm cốt trong mộ, nhưng
    từ lâu Tổ nước ta biết rõ
    và đã khoá hồn ở tầng sâu.
    Hai nơi trong số đó có
    quân bài và yểm hồn người
    đã bị chôn sống để làm
    lính gác dưới mồ.
    Chấm dứt xây chùa,
    đúc tượng ngoại đạo - Việc
    này đã được Thánh Thần
    lưu ý từ mười năm nay và
    rất nhiều lần, nhưng thực
    tế cho thấy đang diễn ra
    chiều hướng ngược lại.
    Giới sư sãi vẫn coi Phật
    Thích Ca, Phật Bà có
    quyền năng tối thượng và
    tiếp tục hành đạo trên cơ
    sở kinh sách từ mấy ngàn
    năm trước. Tâm Linh nước
    nhà đang đối diện với một
    hoàn cảnh khó xử trước
    khi phải đưa ra giải pháp
    quyết liệt cuối cùng nếu
    việc xây chùa, đúc tượng
    và hành lễ ngoại đạo trên
    lãnh thổ Việt Nam vẫn tiếp
    diễn bất chấp mọi lời cảnh
    tỉnh.
    9. Các hình phạt tâm
    linh
    Cũng giống như thế
    giới trần, nếu không có các
    hình phạt tâm linh thì việc
    thực thi luật thiên âm sẽ
    gặp khó khăn lớn do phạm
    vi hiệu lực của luật phổ
    biến cho cả các cư dân vô
    hình và hữu hình. Khía
    cạnh phức tạp là đối với
    người trần. Dựa vào cơ sở
    nào để tin cậy là có tồn tại
    các hình phạt tâm linh? Khi
    Trời Đất và Thánh Thần có
    đủ sức mạnh siêu tự nhiên
    thì sẽ rất dễ dàng để đưa
    ra câu trả lời thoả đáng
    cho câu hỏi trên đây.
    Thực tế cho thấy
    rằng, dường như sự thể
    hiện các hình phạt tâm linh
    ngày càng rõ rệt hơn khi
    bước sang Thiên niên kỷ
    này. Theo tư liệu ngoại
    cảm, có thể phân biệt ba
    dạng hình phạt tâm linh ở
    các mức toàn cầu, quốc gia
    và dòng họ.
    Hình phạt toàn cầu -
    Đây là hình phạt tâm linh
    dành cho những quốc gia
    đã và đang gây ra nhiều tội
    ác chống phá các nước
    khác và làm rối loạn thế
    giới. Những người lãnh
    đạo liên quan bị xử tội,
    đồng thời có thể kéo theo
    tổn thất lớn về sinh mạng
    và tài sản của nước bị
    trừng phạt.
    Hình phạt quốc gia -
    Đây là hình phạt tâm linh
    dành riêng cho một quốc
    gia. Ví dụ, tuy Việt Nam là
    nước được Trời Đất ban
    ân phúc lớn, nhưng đã và
    đang có nhiều việc làm sai
    phạm luật thiên âm. Trong
    nhiều bài giáng bút cho
    biết thông tin: Trời sẽ gây
    họa lớn cho dân nước Nam
    để mọi người biết sợ.
    Hình phạt dòng họ -
    Đây là hình phạt tâm linh
    đối với những người trong
    cùng dòng họ. Những người
    bị án trần đều bị thêm hình
    phạt sau khi chết. Cá nhân
    phạm trọng tội sau khi chết
    sẽ bị đưa ngay vào ngục âm
    để tù hồn. Một số người có
    thể bị ảnh hưởng dắt dây
    từ các vong cùng dòng họ
    đang bị tù đày...
    10. Mấy lời ghi chú
    Chúng ta đang có
    trong tay tập tư liệu ngoại
    cảm với nội dung cực kỳ
    hấp dẫn vì chứa nhiều điều
    mới lạ. Ở đây đòi hỏi cách
    tiếp cận phù hợp để tìm
    hiểu. Có lẽ mỗi người nên
    biết kỹ năng đọc văn bản
    vần thu được từ những cư
    dân của thế giới vô hình.
    Kinh nghiệm của
    chúng tôi chỉ ra rằng: cần
    phải đọc các bài giáng bút
    theo cách tổng hợp, bởi vì
    từng đoạn, cả bài hoặc
    nhiều bài thường tập trung
    thể hiện một chủ đề nhất
    định./.
    Viết giới thiệu: T. V. Đ.
    (Trong nhóm NC tâm linh
    tại Hà Nội)
    Ghi chú: Để có tính khách
    quan, ban biên tập website
    lấy nguyên văn nội dung
    bài giới thiệu của tác giả T.
    V. Đ.
    Last edited by daithuynguu; 27-07-2010 at 11:17 AM.
    NHÂN PHẬT LÀ PHẬT NHÂN

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 05-05-2012, 01:36 AM
  2. Việc hầu đồng đã dứt hay chưa?
    By Quang_tâm in forum Đạo Mẫu,Đạo Tứ phủ
    Trả lời: 33
    Bài mới gởi: 17-07-2011, 03:44 AM
  3. Tương Quan Giữa Thiền Và Mật
    By vampire2001vn in forum Mật Tông
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 27-01-2011, 10:41 PM
  4. Những Nghi Thức Quan Trọng
    By xx.alone in forum Hỏi Đáp PT của thành viên
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 25-07-2010, 10:45 PM

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •